Ung thư gan nguyên phát.

B. Ung thư nguyên phát.

Những ung thư nguyên phát gan, đường ruột và túi mật thì hiếm ở Anh, khoảng 3200 ca mỗi năm.

Phân nửa xảy ra ở mật, một phần ba ở túi mật và còn lại là nguyên phát tế bào gan. Trên thế giới, những ung thư này trở thành gánh nặng lớn cho sức khỏe.

Có sự tiến bộ rất ít trong việc chữa lành bệnh, tuy nhiên để làm giảm bớt bệnh thì có cải thiện lớn, sự ngăn ngừa, sự truy tìm đã cho hy vọng thật sự trong việc làm giảm tỉ lệ bệnh.

1. Ung thư gan nguyên phát.

HCC nghĩa là ung thư gan nguyên phát. Có ít nhất 350.000 ca ung thư gan được phát hiện mỗi năm trên thế giới với tỉ lệ cao ở Đông Nam á. 80% trường hợp ung thư gan nguyên phát từ xơ gan.

Nguy cơ phát triển thành HCC , xơ gan thay đổi tùy thuộc vào nguyên nhân. Nguyên nhân quan trọng nhất là viêm gan siêu vi B , C.

Sự phân phối HCC tùy thuộc vào nhiễm siêu vi B. Ở Đài Loan nhiễm siêu vi B mãn tính làm tăng nguy cơ HCC gấp 100 lần, virus họat động như là yếu tố kích thích mãn tính, kích thích sự thâm nhiễm tế bào gan, làm tăng khả năng thay đổi u tân sinh.

Tổ chức y tế thế giới ước tính khoảng 1 triệu người ở châu Âu nhiễm siêu vi B mỗi năm và 22.000 ngưòi sẽ chết do hậu quả xơ gan, ung thư gan.

Trẻ em bị nhiễm dễ trở thành mãn tính hơn ngưòi lớn nhiễm.

Nhiễm siêu vi C mãn tính rất dễ đưa đến HCC. Những người sử dụng thuốc chích tĩnh mạch dễ nhiễm siêu vi C, và nhóm tương tự dễ có tổn thương gan do rượu. Những yếu tố này thích hợp cho nguy cơ HCC.

a. Biểu hiện:

Ở châu Âu HCC phổ biến là sự phát triển dẫn đần của xơ gan. Những triệu chứng bao gồm đau bụng, yếu sức và chán ăn. Dấu hiệu của suy gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa là phổ biến.

Ở vùng dịch tễ, bệnh thường biểu hiện ở đau và sưng vỏ khối u.

Lớn gan (thỉnh thoảng là mass) xảy ra 50% trường hợp, bống bụng hiện diện hoặc thông qua suy gan hay di căn phúc mạc.

Sốt không thể giải thích được xảy ra trên 10% trường hợp, và hiện tượng cận ung thư cũng được nhận thấy.
b. Truy tìm

HCC tiết ra trong huyết thanh alpha- fetopeotein (AFP) 80% trường hợp, và do đó nó được dùng để truy tìm, chẩn đoán và theo dõi điều trị HCC.

Siêu âm độ ly giải cao dùndiddể truy tìm khối u nhỏ (<3cm) không triệu chứng. Nhiều trung tâm đã có chương trình truy tìm HCC ở bệnh nhân có nguy cơ cao.

Điều này đã đem lại lợi ích sống còn và đánh bại thành kiến từ trước.

c. Ngăn ngừa

Interferon alfa (IFN) đã cho thấy lợi ích trong việc làm giảm hoạt động của virus trong nhiễm siêu vi B mãn. Tác nhân kháng virus Lamimidine cũng có tác dụng tương tự, nhưng chưa làm giảm tỉ lệ HCC.

Ngăn ngừa tốt nhất là tạo miễn dịch đối với siêu vi B. Ở Đài Loan, tỉ lệ HCC giảm 5 lần từ khi trẻ mới sinh được tiêm ngừa siêu vi B. Từ năm 1981, miễn dịch này đã thực hiện 95 quốc gia đa số ở Châu Ảu.

Tuy nhiên, chưa có kế hoạch tạo miễn dịch đối với siêu vi B cho trẻ em ở Anh.

Cho tới bây giờ vẫn chưa có vaccin ngừa siêu vi C.

d. Điều trị. phẫu thuật

Cắt bỏ gan là cách điều trị duy nhất cho khả năng chữa lành với bệnh phát triển và xơ gan chỉ 20% có thể phẫu thuật. Với mức độ cao của nhiều bệnh trạng phối hợp có 12% tử vong khi phẫu thuật.

Tỉ lệ tái phát cao (từ 20 – 100%) và không sống sót được từ 55%/một năm đến chỉ 15% sau 5 năm. Tái cắt gan có thể cố gắng được và điều này có thể cải thiện sống còn.

Nếu khối u nhỏ (<3cm) ghép gan có thế thực hiện. Ghép gan có thể điều trị xơ gan.

Ghép gan được mổ từ đầu ở bệnh nhân HCC. nhưng với nhu cầu tăng với việc cung cấp cơ quan những bệnh nào ghép cơ quan tốt hơn thì được ưu tiên.

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *