Ung thư đường mật.

Đông lạnh hoặc chích trực tiếp vào khối u nhỏ với dầu hoặc ethanol thì được dùng thường qui ở Đông Nam á.

Kỹ thuật này rẻ, dễ và gây ra hoại tử khối u nhanh, tạo ra hiệu quả trong việc kiểm soát đau của khối u. Tỉ lệ sống sót sau 1 năm 54 – 88%, đoạn cuối 18 – 51% sau 3 năm.

Khối u dễ tái đi tái lại và vì vậy phương pháp đông đặc nối tiếp nhau không có tiến bộ vế khả nàng sống còn trong các kỹ thuật này ở các nghiên cứu ở Tây Âu và việc điều trị không thích hợp cho các u lớn.

e. Hóa trị

Chưa có thuốc (bao gồm interferon và tamoxifan) cho thấy hiệu quả lâu dài trong điều trị HCC

f. Điều trị phóng xạ

Điều trị phóng xạ có nhiều tai biến vì sự nhạy cảm của mô gan đối với hóa tia xạ. Điều trị xạ đối với mô gan thường gây viêm gan do tia xạ.

Kỹ thuật mới về lý thuyết cho phép điều trị tia xạ tín hiệu cao để chữa lành HCC, nhưng hiện nay tiến trình này chỉ có thế được dùng để làm giảm đau.

HCC bất ethiodiol rất nhạy, kỹ thuật mới dùng I-Labelled ethiodiol cho liều điều trị xạ để lan đến khối u, đây là kỹ thuật đang được nghiên cứu nhiều kinh nghiệm.

– HCC Dạng Fibrolamellar.

Khoảng 15% HCC là dạng fibrolamellar, là dạng ung thư gan phát triển chậm. Bệnh này không liên quan xơ gan hay nhiễm siêu vi, và xảy ra ở bệnh nhân trẻ.

Bệnh thường không đau, điếu trị bằng cách cắt bỏ khỏi u và tỉ lệ sống còn sau 5 năm 40 – 50%.

– Những khối hiếm

U sarcone mạch máu trong một số trường hợp, hàng năm ở Anh. Liên quan đến sự tiếp xúc với thoratrast và làm việc với vinyl cloride trong công nghiệp. Không có điều trị nào cho khả năng sống còn.

– Ung thư đường mật

Là u ác xảy ra trong ống mật có thể có ở bất cứ chỗ nào của đường mật. Những u bên trong gan có thể được điều trị bằng cách cắt gan nếu được phát hiện sớm.

Những khôi u xa được điều trị bằng cách cắt bỏ tá tràng tụy.

Bệnh hay xảy ra ở tuổi 60 – 65, xảy ra đều ở 2 phái, những yếu tố nguy cơ.

a. Biểu hiện

Hầu hết bệnh nhân có vàng da, thỉnh thoảng đi kèm đau và sụt cân. Bệnh nhân có thể có sờ thấy túi mật. Maker chẩn đoán u là CA- 19 cao.

Chẩn đoán xác định bằng ERCP hoặc PTC.

– Điều trị phẫu thuật.

Cắt bỏ u quanh rốn gan đòi hỏi tái tạo lại oosng gan với sự mổ thông hỗng tràng gan. Nên cắt bỏ gan một phần thì tử vong do phẫu 35%.

Hầu như phân nửa bệnh thuật tăng, nhưng sống còn 5 năm được cải thiện 20 nhân không thể cắt bỏ (thường vì nó bao trùm cả mạch máu gan) hoặc đã di căn.

Ghép gan không được thích hợp trong trường hợp này.

– Hóa trị.

Phần lớn hóa trị không phổ biến, tuy nhiên phối hợp anthracycline với infusional 5FU (ECF) cho thấy có hiệu quả điều trị (nó cùng có hiệu quả ở các ung thư đường tiêu hóa trên).

Theo thử nghiệm ở bệnh viện Royal Marsden, Anh không có sự phối hợp nào cải thiện sống còn. Tất cả bệnh nhân được cho hóa trị nếu thích hợp.

– Xạ trị

Xạ trị có thể cải thiện sống còn khi phẫu thuật không cho phép. Nhưng kỹ thuật thích hợp cho xung quanh mô mỗi ngày kéo dài 6 – 7 tuần.

Điều trị chậm (đặt các nguồn tia xạ trong tạng để phân phối tia xạ) có thể dùng Ir đặt trong các ống mật có liên quan.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *