Cây sến

Cây sến (Madhuca pasquieri (Dubard) ■ H.J.Lam thuộc họ Hồng xiêm (Sapotaceae), tên khác là sên mật, sến nhựa, sên mủ, là một cày gỗ to. thường xanh, cao 30-35m. Tán lá dày. vỏ thân màu nâu sầm, nứt nẻ. có nhựa mủ trắng. Lả mọc so le. hình trứng hay bầu dục, dài 6*16 cm, rộng 2-6 cm, gốc hình nêm, đầu nhọn; cuống lá dài 1.5-3,5 cm. Hoa màu trấng vàng, mọc thành chùm, 2-3 cái ở kẽ lá. có cuống dài. nhiều nhị. Quá hình bầu dục hoặc gần hình cầu. dài 2,5-3 cm. có 1 -5 hạt Mùa hoa’ tháng 1-3; mùa qua: tháng 11-12.

Cây mọc hoang rải rác ở đồi núi thấp trong rừng rậm nhiệt đới thuộc các tỉnh Lào Cai, Bắc Thái. Lạng Sơn, Quảng Ninh. Vĩnh Phú, Thanh Hóa, Quảng Bình ở độ cao dưới 1000 m Không thấy phân bổ ở miền Nam Cây sến tái sinh chủ yếu bằng hạt và chồi

Sến ta một cây cho gỗ quý, đuợc xếp vào nhóm tư thiết cung với lim. đinh, táu Gỗ sên màu đó nâu rất cứng được dùng đóng tàu thuyền, làm kèo cột. lô vẹt. ván cầu dụng cụ thể thao… Lá và vỏ thân cây sến chứa tonin, ílavonoid acid hữu cơ, đường khu. Hạt sến chứa 30-35% dầu béo, có thể ăn được và dùng trong một số ngành công nghiệp đồ gỗ tốt, nên cây sến bị săn tìm rất ráo riết để khai thác làm cho số lượng cá thể của cây trong thiên nhiên giảm sút rõ rệt. Cây đã được ghi vào danh sách những loài thực vật quý. hiếm, có nguy cơ bị tiêu diệt trong sách đó quốc gia để bảo vệ nguồn gen.

Về mặt y học theo kinh nghiệm dân gian. lá sến được dùng làm thuốc chứa bỏng rất công hiệu. Dạng dùng thông thường trong nhân dân là nước sắc đặc dùng để đắp. Dựa vào kinh nghiệm đó, Viện Quân y 103 đã điều chế lá sên dưới dạng cao đặc để dùng. Cách làm cao cụ thể như sau:

Lấy 1 kg lá. băm nhỏ, cho vào nồi nhôm (không dùng nổi tôn hoặc sắt) đố nước cho ngập dược liệu. Đun sôi trong 1-2 giờ (chú ý mức nước luôn sâm sấp dược liệu). Gạn lấy nước thứ nhất. Thêm nước, đun sôi tiếp đế lấy nước thứ hai. Dồn hai nước sắc lại. lọc kỹ, rồi cho nhỏ lửa đến khi thành cao đặc. Cao có màu nâu đen, mùi thơm, vi chát, không độc. Khi bị bòng, lấy tăm bông sạch thấm vào cao. bôi lèn vết thương. Mỗi ngày làm một lần. Thuốc khô nhanh, tạo thành một màng dai vả chắc, che kín vết thương, chống nhiễm khuẩn, không có mùi hôi, không gây xót, làm giảm đau nhức và đặc biệt không dính chặt vào vết thương khi thay thuốc. Nếu bị bóng nhẹ. chỉ bôi vài lần là khỏi. Người bị bỏng khi dùng cao lá sến thấy dễ chịu, không phiền phức .Cao lá sến còn được nghiên cứu thay thế băng gạc dễ bảo vệ vết khâu sau khi mổ. Ưu điểm của cao là diệt khuẩn, làm vết thương mau lành và tiết kiệm bông băng. Dầu hạt sến cúng dược dùng để bôi sẹo sau khi lành và bỏng, cả cao lá và dầu hạt đều không gây tác dụng phụ.

SK và ĐS năm 1996

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *