Xung quanh chén trà nhân trần

Ở Hà Nội, nhiều nơi gói trà nhân trần được bán ngay trong các cưa hàng thực phẩm, tạp hóa, hiệu thuốc, quán nước, v.v… ớ các quán nước thường có nước trà nhân trán nấu sẵn, uống nóng hoặc cho đá để giải khát. Người ta dụng trà nhân trần như một loại nước uống thông thường như nước trà xanh, trà chén (trả búp)… Có người và có gia đình úống trà nhân trần thường xuyên. Không biết tập quán nảy có từ bao giờ? Có lẽ mới có từ khi giải phóng miền Nam? Nơi đó nhân dân thường dùng các loại nước như trà, actiso, bát bảo lường xà, v.v…

Tên nhân trần (NT) thường dùng chung cho nhiều cây khác nhau:

Nhân trần chính thức được nói chung [(rong y vàn cỏ truyền, có tèn khoa học là lAdenosma caeruleum.

– Nhân trần đực hay bồ bồ có tên khoa học Adenosma indianum (Lour) Meer.

– Nhân trần tía còn gọi là nhàn trần cái, lân trần Tây Ninh (thô sản của Tây Ninh) denosma bracteosum Bonaíé).

Trong gói trà nhân trần ở miền Bấc thường lùng là loại NT chính thức và NT đực. Hai loại ly có nhiều điểm giống nhau: đều có tác dụng làm tiết mật, tiêu viêm, lợi tiếu, nhuận tràng, nhưng chung khác nhau về lượng, về mức độ tác dụng.

Nhân trần: tính hơi hàn (y vân)

Bổ bồ: tính hơi ôn.

Do đó mỗi khi chỉ định dùng hai loại nảy người ta thường phân biệt hai đối tượng khác nhau: Nêu bệnh nhản thể ỏn nhiệt thỉ không nên dùng bồ bồ mà dùng nhàn trấn chính thức. Có nhũng bệnh nhân uống bồ bổ do không biết phân biệt với nhân trần nên đã bị phản ứng, thấy háo khát bồn chồn, bứt rứt khó chịu.

Hiện nay có tình trạng cho dùng nhân trần và bổ bổ mà không có sự phân biệt nào bơi nhiều lý do: không quan tâm đến sụ khác biệt giữa hai loại nhân trần về tính, vị và đặc biệt tệ hại hơn vì mục đích lợi nhuận (nhân trần thường đắt gấp đôi bồ bồ).

Trong các gói có tên trà nhân trần có chứa 3 vị thuốc: Nhân trần, hạt thảo quyết minh, cam tháo bắc. Vị nhân trần I đây thường lẩn lộn với bồ bồ I các tỷ lệ khác nhau tùy thuộc vào khả nàng cung cấp và mức độ lợi nhuận.

Chúng ta có thể phản biệt nhân trần với bồ bồ dựa vào một số đặc điểm sau:

– Lá nhân trần lớn hơn lá bồ bồ

– Hoa nhân trần mọc đơn độc ở kẽ lá; hoa bồ bồ mọc thành chùm ở kẽ lá hay đầu ngọn.

– Cây bồ bồ mang nhiều cành ngay từ gốc khác với nhân trần cành xa gốc hơn.

– Bồ bồ có mùỉ hắc hơn và vị đắng hơn nhân trần.

Chưa kể về phương diện hóa học giữa chúng có sự khác biệt rõ rệt:

Nhân trần chính thức vị đắng, tính hơi hàn, không độc, vào kinh bàng quang.

Cóng dụng Thanh nhiệt, lợi tiểu tiện.

Chủ trị: Chữa vàng da mình nóng, tiếu tiện ít. Dương hoàng: nhân trần + chi tử + hoàng bá

Âm hoàng; nhân trần + phụ tử + can khương Kiêng dung trong trường hợp: Vàng da do ứ huyết (tích huyết), cơ thể không thấp nhiệt Trị san hậu (Nhân trần, ích mẫu đi đâu để cho gái đẻ đớn đau thế này?)

Tóm lại: Nhân trần có tác dụng chữa viêm gan vàng da là chủ yếu có phần chỉ định cho một số trường hợp, và có khi phải phối hợp với các vị thuốc khác thì dùng mới có kết quả.

Ngoài vị nhân trần trong gói trà nhân trần được đem bán còn có hai vị có tính chất đặc biệt cần được quan tâm khi phối ngũ.

Hạt thảo quyết minh (semenlassiae) vị mặn, tính bình vào hai kinh can thận. Thanh nhiệt, giáng hỏa, minh mục, thông tiện, phản chỉ định khi tiêu chảy.

Cam thảo (Radise Glycyntiizae), vị ngọt, tính bình vào 12 kinh Thanh nhiệt, giai độc nhuận tràng. Dạng sống thanh hỏa, nướng thì ôn trung. Phần chí định khi tiêu chảy.

Đối với phối ngũ này cũng chưa biết xuất xứ từ đâu đế tạo ra gói nhân trần này? Điều cần lưu ý là haí vị này đều có chỉ định và chống chỉ định liên quan đến vị chính là vị nhân trần. Hơn thê nữa, công dụng của chúng phụ thuộc nhiều vào phương pháp bào chế đặc biệt đối với hạt thảo quyết minh.

Tóm lại: Trà nhân trần là một loại trà thuốc (thuốc dạng trả) với những thuộc tính của một dược phẩm, là loại thuốc cò ca chỉ định vả chống chí định. Do đó cần được hướng dẫn cụ thể khi sứ dụng đế tránh xảy ra những sự cố đáng tiếc .

SK và ĐS năm 1996

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *